Thực trạng và giải pháp phát triển công nghiệp hỗ trợ trong giai đoạn mới

Đăng ngày: 11/03/2021 , 10:43 GMT+7

Thời gian qua, công nghiệp hỗ trợ (CNHT) đã được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm và định hướng là một trong những ngành ưu tiên phát triển, được ưu đãi đầu tư. Tuy nhiên, CNHT Việt Nam vẫn bộc lộ những tồn tại, hạn chế và phát sinh những vấn đề mới, đòi hỏi phải có những nhóm giải pháp hiệu quả để phát triển bền vững ngành CNHT trong giai đoạn mới.

CNHT có ý nghĩa quan trọng đối với chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, giúp nâng cao năng suất lao động và năng lực cạnh tranh, tăng giá trị gia tăng và sự phát triển bền vững cho nền kinh tế quốc dân.

Tại Nghị định 111/2015/NĐ-CP ngày 3/11/2015 của Chính phủ về phát triển CNHT, CNHT được định nghĩa là “các ngành công nghiệp sản xuất nguyên liệu, vật liệu, linh kiện và phụ tùng để cung cấp cho sản xuất sản phẩm hoàn chỉnh”. Với cách hiểu này, xét trong tổng thể ngành công nghiệp từ thượng nguồn đến hạ nguồn, CNHT chính là các ngành thượng nguồn và trung nguồn, cung cấp đầu vào để sản xuất ra các sản phẩm cuối cùng ở khu vực hạ nguồn. Với định nghĩa này, phạm vi của CNHT liên quan đến hầu hết các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo. Tuy nhiên, nếu chỉ xét đến các sản phẩm CNHT ưu tiên phát triển theo quy định tại Nghị định 111 thì CNHT bao gồm một số nguyên vật liệu, phụ tùng, linh kiện cho các sản phẩm hạ nguồn thuộc các ngành dệt may, da giầy, điện tử, ô tô, cơ khí, và công nghiệp công nghệ cao.

Từ năm 2015, Chính phủ đã ban hành các văn bản chính sách quan trọng, là cơ sở để triển khai mạnh mẽ hơn nữa các chính sách, hoạt động khuyến khích, thu hút đầu tư, trợ giúp doanh nghiệp trong lĩnh vực này. Một số chính sách hiện hành liên quan đến CNHT thời gian qua có thể kể đến gồm: Luật Đầu tư 2014 và Nghị định số 118/2015/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều của Luật đầu tư: theo đó sản xuất CNHT là lĩnh vực được đặc biệt ưu đãi đầu tư tại Việt Nam; Nghị định số 111/2015/NĐ-CP về phát triển CNHT quy định các chính sách, hoạt động khuyến khích, hỗ trợ phát triển CNHT; Quyết định 68/QĐ-TTg về phê duyệt Chương trình phát triển CNHT từ năm 2016 đến năm 2025 đưa ra các chương trình hỗ trợ doanh nghiệp CNHT; Quyết định 9028/QĐ-BCT về việc phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển CNHT đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 trong đó sản xuất linh kiện, phụ tùng là 1 trong 3 lĩnh vực CNHT ưu tiên phát triển.

Bên cạnh việc thực hiện các văn bản chính sách, tạo không gian cho ngành CNHT phát triển, thời gian qua Bộ Công Thương cũng đã triển khai các chương trình hợp tác quốc tế, huy động các nguồn lực từ các nhà tài trợ khác nhau nhằm thúc đẩy phát triển CNHT nói riêng và ngành công nghiệp nói chung. Có thể kể đến Chương trình phát triển nhà cung cấp nhằm gắn kết doanh nghiệp đa quốc gia đang hoạt động tại Việt Nam với doanh nghiệp trong nước do Bộ Công Thương phối hợp với Ngân hàng thế giới (WB) và Công ty Tài chính quốc tế (IFC) thực hiện; Chương trình hỗ trợ nâng cao năng lực cho các trường đại học thuộc Bộ sử dụng vốn vay ODA của WB; Chương trình hỗ trợ các trường cao đẳng thuộc Bộ nâng cao năng lực đào tạo thông qua các dự án hợp tác kỹ thuật, dự án vốn vay với các tổ chức quốc tế như GIZ, ADB…

Về các giải pháp, chính sách hỗ trợ về tài chính, tín dụng, từ năm 2012 đến nay, cho vay phát triển CNHT được xác định là một trong 05 lĩnh vực ưu tiên của ngành Ngân hàng. Ngân hàng Nhà nước đã chỉ đạo các tổ chức tín dụng (TCTD) cân đối nguồn vốn để đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn đối với các lĩnh vực ưu tiên, quy định trần lãi suất cho vay ngắn hạn bằng VND thấp hơn lãi suất cho vay thông thường khoảng 1-2%/năm và đã điều chỉnh giảm trần lãi suất cho vay này phù hợp với xu hướng giảm của mặt bằng lãi suất thị trường. Hiện nay, các TCTD đang triển khai cho vay trần lãi suất đối với lĩnh vực CNHT là 6,5% theo quy định tại Quyết định số 1425/QĐ-NHNN ngày 7/7/2017. Các ngân hàng thương mại cũng triển khai nhiều giải pháp để tăng khả năng tiếp cận vốn của các doanh nghiệp nói chung, doanh nghiệp CNHT nói riêng.

Tuy nhiên trên thực tế hoạt động, các doanh nghiệp CNHT vẫn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc từ triển khai cơ chế chính sách; những quy định về thuế; về thu thập thông tin liên quan đến CNHT; khó khăn trong việc thực hiện cho vay trên cơ sở bảo lãnh của các tổ chức bảo lãnh cho DNNVV; Khó khăn trong quá trình triển khai kết nối kinh doanh; trong đáp ứng nguồn nhân lực sản xuất CNHT…

Thực trạng phát triển CNHT hiện nay

Với sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và các Bộ ngành, CNHT ngày càng được thúc đẩy tăng cường liên kết, nâng cao sự vững chắc trong chuỗi cung ứng cho những ngành sản xuất chủ lực của Việt Nam như dệt may, da giày, điện tử, công nghiệp chế biến nông sản… Bước đầu hình thành hệ sinh thái CNHT và gia tăng tỷ lệ nội địa hóa; Cơ cấu sản phẩm có sự dịch chuyển tích cực khi tỷ trọng sản phẩm công nghệ cao và vừa của Việt Nam đã tăng lên đáng kể, tạo cơ sở hình thành một số tập đoàn công nghiệp tư nhân có quy mô lớn, có khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế; điển hình là công nghiệp ô tô Việt Nam, lần đầu tiên khẳng định sự tự chủ trong đầu tư, sản xuất, làm chủ công nghệ và tham gia chuỗi giá trị toàn cầu. Tỷ trọng hàng hóa xuất khẩu qua chế biến trong tổng giá trị xuất khẩu tăng từ 65% năm 2016 lên 85% năm 2020; Tỷ trọng giá trị xuất khẩu sản phẩm công nghệ cao tăng từ 44,3% năm 2016 lên 49,8% năm 2020.

Trong năm 2020, chúng ta đã nỗ lực tập trung đẩy mạnh Chương trình phát triển CNHT nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp nâng cao năng lực sản xuất, kinh doanh và có cơ hội tham gia vào chuỗi sản xuất toàn cầu, thông qua các hoạt động hỗ trợ xúc tiến đầu tư, kết nối thị trường; nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực; kết nối với các tập đoàn lắp ráp đa quốc gia và các nhà cung ứng lớp trên thế giới nhằm tìm đầu ra cho sản phẩm, từng bước tham gia vào chuỗi cung ứng của các doanh nghiệp FDI... Nhờ đó, nhiều doanh nghiệp trong nước đã tham gia thành công vào chuỗi giá trị toàn cầu. Nhiều hãng sản xuất đa quốc gia lớn cũng đã và đang có kế hoạch mở rộng đầu tư hoặc đầu tư mới tại Việt Nam như Toyota, Ford, Honda, Hyundai, Mazda, Mitsubishi, Foxconn, Samsung...

Tuy nhiên, nhìn nhận thẳng thắn có thể thấy CNHT phát triển còn chậm, chưa đáp ứng được nhu cầu của các ngành công nghiệp xuất khẩu trong nước dẫn đến tỷ lệ nội địa hóa trong các ngành công nghiệp đạt thấp, giá trị gia tăng tạo ra trong nước không cao. Ví dụ như ngành cơ khí mới chỉ đáp ứng khoảng hơn 32% nhu cầu sản phẩm cơ khí, chất lượng sản phẩm chưa tốt, giá thành cao, tính cạnh tranh của sản phẩm còn kém, gần như chưa có sản phẩm công nghiệp chủ lực trong ngành cơ khí. Những năm gần đây, các ngành công nghiệp chế tạo, chế biến chiếm tỷ trọng cao gần 40% trong tổng doanh thu thuần sản xuất kinh doanh của nền kinh tế, nhưng chỉ đóng góp khoảng gần 14% GDP, giá trị gia tăng rất thấp so với các ngành công nghiệp khác. Số liệu của OECD cũng cho thấy, 05 năm trở lại đây, trong cơ cấu giá trị gia tăng trong các sản phẩm xuất khẩu của Việt Nam, giá trị gia tăng từ nước ngoài vẫn chiếm tỷ lệ lớn, đặc biệt là từ Trung Quốc và Hàn Quốc, trong khi tỷ lệ hàm lượng giá trị gia tăng nội địa vẫn còn thấp và chưa có nhiều chuyển dịch đáng kể (02 mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam là hàng dệt may và hàng điện tử có tỷ lệ giá trị gia tăng trong nước chỉ lần lượt là hơn 50% và hơn 37%).

Mặt khác, do CNHT chưa thực sự phát triển, các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo của Việt Nam phụ thuộc rất lớn vào nguồn cung cấp nguyên phụ liệu, linh kiện đầu vào nhập khẩu, đặc biệt là các ngành công nghiệp chủ lực như điện tử; dệt may; da – giày - túi xách; sản xuất, lắp ráp ô tô... Chính vì vậy, khi dịch bệnh Covid-19 bùng nổ tại các quốc gia cung ứng linh phụ kiện sản xuất chủ yếu cho Việt Nam như Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản..., các ngành công nghiệp trong nước đã gặp rất nhiều khó khăn trong việc bảo đảm các yếu tố đầu vào sản xuất trong thời gian đầu năm 2020. Phải đến khi các quốc gia này vượt qua đỉnh dịch, nguồn cung ứng nguyên phụ liệu nhập khẩu cho các ngành sản xuất của Việt Nam mới được phục hồi.

Giải pháp phát triển CNHT trong thời gian tới

Những phân tích trên đây cho thấy, để có thể phát triển CNHT, vấn đề đầu tiên cần đảm bảo là thị trường và sức mua của người tiêu dùng. Khi thị trường trong nước chưa đủ lớn, nhưng nếu chính sách ổn định trong dài hạn, các doanh nghiệp có thể dự báo được tiềm năng thị trường trong tương lai thì họ vẫn sẵn sàng đầu tư để đón đầu cơ hội thị trường. Song song với việc tạo thị trường, nâng cao năng lực sản xuất công nghiệp trong nước và nâng cao chất lượng đào tạo nghề, đảm bảo cả về số lượng và chất lượng của lao động trong các ngành công nghiệp là những việc cần làm để thúc đẩy phát triển CNHT tại Việt Nam.

Do đó theo các doanh nghiệp CNHT, cần sớm nghiên cứu, sửa đổi những quy định còn vướng mắc trong chính sách phát triển CNHT, bao gồm những quy định về phạm vi CNHT, tiêu chí xác định đối tượng ưu đãi, quy định về thuế VAT, thuế nhập khẩu... nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp CNHT phát triển. Xây dựng và triển khai các chương trình phát triển nhà cung cấp, hỗ trợ nâng cao năng lực cho doanh nghiệp CNHT, hợp tác liên kết giữa doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và các doanh nghiệp trong nước. Trên cơ sở đó, thúc đẩy doanh nghiệp trong nước tham gia mạnh mẽ hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu. Cần có giải pháp để các doanh nghiệp thuộc ngành CNHT nâng cao năng lực tài chính, bổ sung vốn tự có, nâng cao năng lực quản trị kinh doanh, nghiên cứu đề xuất thực hiện các dự án khả thi. Tiếp tục xác định CNHT là lĩnh vực ưu tiên và chỉ đạo các TCTD cân đối nguồn vốn cho vay theo trần lãi suất quy định của NHNN. Nghiên cứu xây dựng cơ sở dữ liệu về doanh nghiệp CNHT, hệ thống đánh giá năng lực doanh nghiệp, dịch vụ tư vấn, đánh giá doanh nghiệp nhằm cung cấp thông tin, hỗ trợ các ngân hàng trong việc đánh giá, thẩm định cho vay các doanh nghiệp CNHT. Nghiên cứu, xây dựng cơ chế nhằm khuyến khích, thúc đẩy liên kết giữa cơ sở đào tạo và doanh nghiệp, hỗ trợ các trường trong việc đầu tư mua sắm trang thiết bị phù hợp với yêu cầu thực tiễn của doanh nghiệp.

Nhằm tháo gỡ khó khăn, vướng mắc về cơ chế, chính sách liên quan đến công nghiệp hỗ trợ; cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, thu hút, đón dòng vốn đầu tư và làn sóng dịch chuyển sản xuất của các công ty đa quốc gia; đồng thời, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp CNHT và công nghiệp chế biến, chế tạo phát triển nâng cao năng lực cạnh tranh, ngày 6/8/2020, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 115/NQ-CP về các giải pháp thúc đẩy phát triển CNHT với nhiều chính sách mới kỳ vọng sẽ tạo nên cú hích lớn cho CNHT và công nghiệp chế biến, chế tạo.

Nghị quyết đặt ra mục tiêu đến năm 2025 doanh nghiệp Việt Nam có khả năng sản xuất các sản phẩm CNHT có tính cạnh tranh cao, đáp ứng được 45% nhu cầu thiết yếu cho sản xuất, tiêu dùng trong nội địa; chiếm khoảng 11% giá trị sản xuất toàn ngành công nghiệp; có khoảng 1.000 doanh nghiệp đủ năng lực cung ứng trực tiếp cho các doanh nghiệp lắp ráp và tập đoàn đa quốc gia trên lãnh thổ Việt Nam trong đó, doanh nghiệp trong nước chiếm khoảng 30%. Năm 2030 sản phẩm CNHT đáp ứng 70% nhu cầu cho sản xuất, tiêu dùng trong nội địa; chiếm khoảng 14% giá trị sản xuất công nghiệp. Có khoảng 2.000 doanh nghiệp đủ năng lực cung ứng trực tiếp cho các doanh nghiệp lắp ráp và tập đoàn đa quốc gia trên lãnh thổ Việt Nam.

Để triển khai hiệu quả Nghị quyết của Chính phủ, Bộ Công Thương xác định phát triển CNHT theo hướng lựa chọn các nhóm ngành CNHT cần ưu tiên phát triển phù hợp với điều kiện cụ thể của từng giai đoạn phục vụ sản xuất công nghiệp để tăng cường khả năng tham gia mạng lưới sản xuất toàn cầu của các tập đoàn đa quốc gia. Triển khai thực hiện hiệu quả các đề án hỗ trợ ngành CNHT theo Chương trình phát triển CNHT đã phê duyệt trong một số ngành trọng điểm như: công nghiệp ô tô, điện tử, dệt may và da giày. Tập trung vào khâu tổ chức kết nối và hỗ trợ các doanh nghiệp trong nước tham gia được vào chuỗi cung ứng cho các doanh nghiệp và các dự án có vốn đầu tư nước ngoài nhằm khai thác hiệu quả quá trình hội nhập. Phối hợp chặt chẽ với một số doanh nghiệp FDI đa quốc gia tăng cường tìm kiếm, kết nối các doanh nghiệp sản xuất nguyên vật liệu, linh phụ kiện trong nước đủ khả năng sản xuất thay thế nguồn nhập khẩu trong ngắn hạn cũng như trong dài hạn. Bên cạnh đó thường xuyên cập nhật, nâng cấp hệ thống cơ sở dữ liệu các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo và CNHT nhằm hình thành mạng lưới kết nối các doanh nghiệp, nhà đầu tư, tổ chức trong và ngoài nước liên quan đến ngành công nghiệp. Xây dựng và triển khai Chiến lược phát triển ngành công nghiệp dệt may và da giầy đến năm 2030, định hướng đến năm 2035; xây dựng Chương trình phát triển bền vững ngành dệt may, da giầy giai đoạn từ năm 2021 đến năm 2030 nhằm tháo gỡ “điểm nghẽn” về nguyên phụ liệu, hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực, và ứng dụng công nghệ 4.0 trong thiết kế, sản xuất; xanh hóa ngành công nghiệp dệt may, da giầy nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành dệt may, da giày đồng thời tận dụng hiệu quả cao nhất các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới như EVFTA, CPTPP để đưa ngành dệt may, da giày tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng, chuỗi giá trị toàn cầu.

Hoàng Phương

Tạp chí Doanh nghiệp và Thương mại - Số 01/2021

Đăng ngày: 11/03/2021 , 10:03 GMT+7

Tin liên quan