Theo Nghị định, hoạt động cung ứng và sử dụng dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon của rừng đảm bảo công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình; hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, chủ rừng và các bên liên quan; đảm bảo quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường sinh thái. Việc cung ứng và sử dụng dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon của rừng không được ảnh hưởng đến việc thực hiện cam kết quốc tế về giảm phát thải khí nhà kính mà Việt Nam tham gia. Kết quả giảm phát thải, tín chỉ carbon rừng đã được trao đổi, chuyển nhượng theo hợp đồng hoặc trên sàn giao dịch carbon thì bên cung ứng hoặc đại diện chủ sở hữu kết quả giảm phát thải, tín chỉ carbon rừng không được trao đổi, chuyển nhượng cho các bên sử dụng khác.

Ảnh minh họa
Chủ rừng nắm quyền sở hữu tín chỉ carbon với rừng họ trồng. Họ có thể hợp tác, liên kết với tổ chức, cá nhân để thực hiện dự án, báo cáo, thẩm định (MRV),và trình thủ tục đề nghị cấp tín chỉ carbon. Với rừng thuộc sở hữu toàn dân, Bộ Nông nghiệp và Môi trường là đại diện chủ sở hữu tín chỉ được tạo ra từ dự án rừng do cơ quan chuyên môn thuộc Bộ thực hiện. Còn UBND cấp tỉnh là đại diện chủ sở hữu tín chỉ tạo ra từ rừng do cơ quan chuyên môn địa phương thực hiện.
Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường sẽ đưa ra phương pháp xác định mức chi trả hàng hóa carbon với các loại rừng trên. Việc xác định giá phải bù đắp được chi phí xây dựng, đăng ký, MRV, hỗ trợ chi phí bảo vệ, phát triển rừng, sinh kế...
Bộ cũng chịu trách nhiệm phân bổ mục tiêu giảm phát thải nhà kính từ rừng cho từng tỉnh, thành, và xác nhận số lượng được phép bán căn cứ trên lượng tín chỉ đã cấp. Thẩm quyền cấp tín chỉ carbon rừng do UBND cấp tỉnh hoặc Bộ Nông nghiệp và Môi trường phê duyệt./.
PV.













