Luật sư Trương Anh Tú, Chủ tịch TAT Law Firm: Không chỉ cần "lá chắn pháp lý", Petrovietnam cần cơ chế chia sẻ rủi ro

Đăng ngày: 31/07/2026 , 15:54 GMT+7

Luật sư Trương Anh Tú - Chủ tịch Công ty Luật TAT cho rằng, Điều 64 Luật Dầu khí năm 2022 đã giải quyết nỗi lo trách nhiệm trong hoạt động tìm kiếm, thăm dò. Tuy nhiên, để Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam (Petrovietnam) tiếp tục đầu tư tăng trữ lượng, điều cần thiết không chỉ là "lá chắn pháp lý" mà còn là cơ chế chia sẻ rủi ro.

Điều 64: Tháo gỡ nỗi lo trách nhiệm nhưng chưa tạo ra nguồn năng lượng tái sinh đầu tư

Trong lĩnh vực dầu khí, thất bại trong tìm kiếm, thăm quan là một phần tất yếu của hoạt động đầu tư. Trên thế giới, tỷ lệ khoan khoan không có khả năng phát hiện thương mại ở mức cao, đặc biệt tại các khu vực nước sâu, xa bờ biển hoặc có điều kiện địa chất phức hợp.

Về vấn đề này, Luật sư Trương Anh Tú cho rằng, trước khi Luật Dầu khí năm 2022 bị cấm hành động, một trong những rào cản đối với hoạt động đầu tư dầu khí là tâm lý e cảm hứng khi kết quả tìm kiếm, thăm dò không đạt kỳ vọng. Doanh nghiệp không chỉ phải đối mặt với phức tạp tài chính mà người ra quyết định nhưng chịu áp lực trong công việc chứng minh tính đúng đắn của quyết định đầu tư.

Luật sư Trương Anh Tú - Chủ tịch TAT Law Firm

Điều 64 của Luật Dầu khí năm 2022 đã tạo ra bước chuyển quan trọng trong tư duy lập pháp khi thừa nhận rủi ro ro địa chất là yếu tố khách quan của hoạt động dầu khí, đồng thời phân biệt rõ rủi ro ro đầu tư và hành động vi làm thất bại thoát khỏi nhà vốn.

"Điều quan trọng nhất của quy định này là tạo ra hành lang pháp lý để người quản lý có thể đưa ra quyết định đầu tư trên cơ sở đánh giá chuyên môn, quy trình minh bạch và vì mục tiêu phát triển phát triển lâu dài. Khi doanh nghiệp thực hiện đúng quy định, xác minh quyền thì chi phí tìm kiếm, thăm dò không thành công được xử lý theo cơ chế pháp luật quy định", Luật sư Trương Anh Tú phân tích.

Theo ông, xét về phương pháp pháp lý, Điều 64 là quy định có tính khả thi khi vừa giải phóng điểm nhấn về trách nhiệm, vừa trì cơ chế kiểm soát cần thiết duy trì doanh nghiệp nhà nước.

Tuy nhiên, nhìn từ yêu cầu phát triển dài hạn của ngành dầu khí , Điều 64 mới chỉ giải quyết được một phần của vấn đề.

Bởi lẽ, quy định này chủ yếu xử lý câu chuyện sau khi rủi ro xảy ra: doanh nghiệp đã bỏ khảo sát, thăm dò, xác định không có phát hiện thương mại và được xử lý chi phí theo quy định. Đây là cơ chế xử lý về mặt pháp lý và kế toán, nhưng chưa phải là cơ chế tạo nguồn tài chính chính để doanh nghiệp tiếp tục bước vào những hoạt động tìm kiếm mới.

Đặc thù của ngành khí đốt không thể dừng lại sau một thất bại. Để có một thương mại phát hiện, doanh nghiệp phải thực hiện nhiều chương trình khảo sát, thăm quan với tỷ lệ thành công không phải lúc nào cũng cao. Chính vì vậy, bài toán lớn hơn không chỉ là xử lý tài khoản đầu tư đã bị mất, mà là làm thế nào để doanh nghiệp có đủ năng lực tài chính tiếp tục chấp nhận những rủi ro tiếp theo.

"Nếu chỉ giải quyết câu chuyện giải toán mà không tạo được dòng tiền cho chu kỳ đầu tư mới thì doanh nghiệp vẫn gặp khó khăn trong công việc duy trì hoạt động tìm kiếm, thăm quan. Đây chính là khoảng trống mà một cơ chế pháp lý đơn thuần chưa thể giải quyết", Luật sư Trương Anh Tú nhận định.

Hoàn thiện cơ chế để tăng lượng dự trữ, đảm bảo năng lượng

Theo luật sư Trương Anh Tú, vấn đề hoàn thiện cơ chế cho hoạt động tìm kiếm, thăm dò dầu khí cần được đặt trong bối cảnh lớn hơn là mục tiêu tăng cường năng lực và đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia.

Thực tế cho thấy, nhiều dầu khí chủ lực của Việt Nam đang bước vào giai đoạn suy giảm tự nhiên. Trong khi đó, các phát hiện mới ngày càng khó khăn hơn khi phần lớn nằm ở khu vực nước sâu, xa bờ, điều kiện địa chất phức tạp, Đòi hỏi chi phí đầu tư lớn và khả năng rủi ro cao.

Điều này đặt ra yêu cầu của Petrovietnam phải tiếp tục duy trì hoạt động tìm kiếm, truy cập để bổ sung thêm nguồn tài nguyên mới, tạo nền tảng cho sản phẩm khai thác năng lượng trong tương lai.

"Trữ lượng hôm nay chính là sản phẩm số lượng của ngày mai. Nếu không liên tục đầu tư cho tìm kiếm, truy cập, nguồn tài nguyên sẽ suy giảm theo quá trình khai thác thác tự nhiên. Khi đó, vấn đề không còn là câu chuyện riêng của doanh nghiệp mà liên quan trực tiếp đến khả năng bảo đảm nguồn cung cấp năng lượng của đất nước", ông nhấn mạnh.

Theo ông, gia tăng trữ lượng không chỉ là mục tiêu sản xuất kinh doanh của Petrovietnam mà còn gắn với năng lực tự chủ năng lượng, duy trì hệ thống sinh thái công nghiệp dầu khí và đảm bảo nguồn lực cho quá trình chuyển dịch năng lượng.

Trong bối cảnh đó, chủ đề xuất nghiên cứu khôi phục Quỹ tìm kiếm, thăm quan và khai thác dầu khí (Quỹ TKTD) cần được xem như một công cụ tài chính bổ sung nguồn lực cho hoạt động đầu tư có tính chiến lược này.

Theo Luật sư Trương Anh Tú, cho rằng Quỹ TKTD có thể lấn chiếm Điều 64 là chưa được coi là bản chất đúng đắn của hai cơ chế.

"Điều 64 là cơ chế xử lý rủi ro sau đầu tư, còn Quỹ TKTD là cơ chế tạo nguồn lực trước đầu tư. Một cơ chế bảo vệ người quyết định, một cơ chế giúp doanh nghiệp có nguồn lực để tiếp tục đầu tư và chấp nhận rủi ro. Hai cơ chế này không thể thay thế nhau mà có thể hỗ trợ nhau nếu được thiết kế phù hợp", ông phân tích.

Tuy nhiên, để Quỹ TKTD có thể vận hành hiệu quả, ông cần phải có đồng bộ của hệ thống luật. Trước hết, phải làm rõ mối quan hệ giữa Quỹ với cơ chế xử lý chi phí theo Điều 64 nhằm tránh cách hiểu khác nhau hoặc nguy cơ một tài khoản chi được xử lý theo nhiều cơ chế.

Bên bờ đó, cần nghiên cứu sửa đổi các quy định liên quan đến quản lý, đầu tư và sử dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệp và cơ chế phân phối lợi nhuận để tạo cơ sở pháp lý cho việc hình thành nguồn năng lượng tái sinh đầu tư.

Theo luật sư Trương Anh Tú, đây chính là yêu cầu chuyển đổi trong tư vấn xây dựng cơ chế đối với các đặc thù kinh tế lớn.

"Điều 64 đã chuyển tư duy từ 'quy trách nhiệm' sang 'chấp nhận rủi ro'. Bước tiếp theo cần hướng tới là chuyển từ 'quản lý rủi ro' sang 'chia sẻ rủi ro'. Nhà nước không thể loại bỏ hoàn toàn rủi ro trong hoạt động dầu khí, nhưng có thể xây dựng cơ chế để phân tích rủi ro, giúp doanh nghiệp đủ năng lực thực hiện các nhiệm vụ chiến lược giao dịch", nói.

Nếu không liên tục đầu tư cho tìm kiếm, thăm dò, nguồn tài nguyên sẽ suy giảm theo quá trình khai thác tự nhiên (ảnh minh họa)

Theo ông, cơ chế hoàn thiện cho hoạt động tìm kiếm, thăm dò dầu khí không nên được xem là một chính sách ưu đãi dành riêng cho Petrovietnam. Bản chất của vấn đề là xây dựng một cơ chế phù hợp với đặc thù của ngành dầu khí - lĩnh vực có độ rủi ro cao nhưng giữ vai trò quan trọng đối với năng lượng và sự phát triển của nền kinh tế.

"Thể chế tốt không phải là thể chế loại bỏ hoàn toàn rủi ro, mà có thể biết phân tích bổ sung và chia sẻ rủi ro một cách hợp lý doanh nghiệp có thể thực hiện những nhiệm vụ chiến lược vì lợi ích quốc gia. Đầu tư cho Petrovietnam, thử đến cùng, không chỉ là đầu tư cho một doanh nghiệp, mà là đầu tư cho năng lực tự chủ năng lượng, cho gia tăng mạnh và cho sự phát triển bền vững của đất nước trong nhiều thời gian", sư Trương Anh Tú.

Xin cảm ơn ông về cuộc trò chuyện này.

PV

Đăng ngày: 31/07/2026 , 15:54 GMT+7

Tin liên quan

Tin Khác