Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Công nghệ cao Hà Nội: Đào tạo nghề phải bắt nhịp chuyển động của thời đại

Đăng ngày: 06/01/2026 , 20:01 GMT+7

Trong bối cảnh Hà Nội xác định phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao gắn với chuyển đổi số và chuyển đổi xanh là khâu đột phá chiến lược hàng đầu giai đoạn 2025–2030, giáo dục nghề nghiệp đang đứng trước yêu cầu phải thay đổi căn bản cả tư duy lẫn mô hình đào tạo. Từ thực tiễn của một cơ sở đào tạo trọng điểm, NGƯT, TS Phạm Xuân Khánh – Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Công nghệ cao Hà Nội đã chia sẻ những phân tích thẳng thắn, sâu sắc về vai trò “tuyến đầu” của trường nghề, những điểm nghẽn thể chế cần tháo gỡ và các giải pháp đột phá để đào tạo ra lực lượng lao động không chỉ giỏi tay nghề mà còn có tư duy số, kỹ năng xanh và năng lực học tập suốt đời.

Thực hiện chủ trương của Thành phố Hà Nội theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng bộ lần thứ XVIII (nhiệm kỳ 2025 – 2030),trong đó xác định: “Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao” là một trong những khâu đột phá chiến lược hàng đầu. Nhằm có được những phân tích sâu sắc, đa chiều và ghi nhận khách quan tầm nhìn, chiến lược cũng như các giải pháp thực tiễn từ phía nhà trường. PV Tạp chí Doanh nghiệp và Thương mại có buổi chia sẻ cùng NGƯT, TS Phạm Xuân Khánh – Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Công nghệ cao Hà Nội.

NGƯT. TS Phạm Xuân Khánh – Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Công nghệ cao Hà Nội đã vinh dự là đại biểu chính thức tham dự Đại hội Thi đua yêu nước toàn quốc lần thứ XI do Hội đồng Thi đua – Khen thưởng TW tổ chức tại Hà Nội.

Phóng viên: Thưa đồng chí, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Thành phố lần thứ XVIII (nhiệm kỳ 2025 – 2030) đã xác định: “Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao” gắn liền với “chuyển đổi số” và “chuyển đổi xanh” là một trong những khâu đột phá chiến lược hàng đầu. Với tư cách là “tuyến đầu”, nhà trường cụ thể hóa tinh thần “đột phá” này như thế nào trong chiến lược đào tạo của mình? Nhà trường đang tái cấu trúc chương trình đào tạo ra sao để đảm bảo sinh viên tốt nghiệp không chỉ có “tay nghề” mà còn có “tư duy số” và “kỹ năng xanh” đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế tuần hoàn?

NGƯT. TS Phạm Xuân Khánh: Trước hết, có thể khẳng định rằng, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Thành phố Hà Nội lần thứ XVIII đã đặt ra một tầm nhìn rất rõ ràng và rất đúng thời điểm: phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao phải đi cùng chuyển đổi số và chuyển đổi xanh, coi đây là những khâu đột phá chiến lược hàng đầu để Thủ đô phát triển nhanh và bền vững. Với các cơ sở giáo dục nghề nghiệp, đặc biệt là Trường Cao đẳng Công nghệ cao Hà Nội – đơn vị được xác định là cơ sở đào tạo nguồn nhân lực kỹ thuật trọng điểm của Thành phố, chúng tôi nhận thức sâu sắc rằng mình chính là “tuyến đầu” hiện thực hóa tinh thần đột phá đó bằng những hành động cụ thể, thực chất và có chiều sâu.

Trong chiến lược phát triển giai đoạn 2025–2030, nhà trường đã và đang triển khai tái cấu trúc toàn diện chương trình đào tạo theo hướng lấy năng lực nghề nghiệp trong bối cảnh kinh tế số và kinh tế xanh làm trung tâm. Trước hết, chúng tôi không coi chuyển đổi số và chuyển đổi xanh là những nội dung “bổ sung” mà tích hợp trực tiếp, xuyên suốt vào từng nghề đào tạo. Mỗi chương trình đều được rà soát, cập nhật theo hướng giảm mạnh lý thuyết thuần túy, tăng thời lượng thực hành gắn với công nghệ mới, quy trình sản xuất thông minh, quản trị số, tự động hóa, tiết kiệm năng lượng và thân thiện với môi trường.

Về “tư duy số”, nhà trường tập trung hình thành cho sinh viên năng lực làm việc trong môi trường số ngay từ năm học đầu tiên. Sinh viên không chỉ học kỹ năng sử dụng công nghệ, mà được rèn luyện tư duy dữ liệu, tư duy hệ thống, khả năng thích ứng với công nghệ mới, làm việc trên các nền tảng số, từ thiết kế, sản xuất đến quản lý, kinh doanh. Đồng thời, chúng tôi đẩy mạnh chuyển đổi số trong chính hoạt động dạy – học và quản trị nhà trường, để sinh viên được “sống” trong môi trường số, chứ không chỉ “học về” chuyển đổi số.

Đối với “kỹ năng xanh”, nhà trường xác định đây là yêu cầu tất yếu trong bối cảnh kinh tế tuần hoàn và phát triển bền vững. Các nội dung về sản xuất sạch hơn, sử dụng năng lượng hiệu quả, tái chế, tái sử dụng, an toàn môi trường lao động, trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp được lồng ghép có hệ thống trong chương trình đào tạo. Đặc biệt, thông qua các dự án học tập, đồ án thực hành và hợp tác doanh nghiệp, sinh viên được tiếp cận trực tiếp với mô hình sản xuất xanh, công nghệ xanh, qua đó hình thành ý thức nghề nghiệp gắn với bảo vệ môi trường và phát triển bền vững.

Một điểm nhấn quan trọng khác là sự gắn kết chặt chẽ giữa nhà trường và doanh nghiệp. Chúng tôi coi doanh nghiệp là “đồng chủ thể” trong đào tạo. Chương trình, chuẩn đầu ra, phương pháp đánh giá đều có sự tham gia trực tiếp của doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp đang thực hiện chuyển đổi số và chuyển đổi xanh. Điều này giúp bảo đảm sinh viên tốt nghiệp không chỉ có tay nghề vững, mà còn có tư duy mở, khả năng học hỏi suốt đời và sẵn sàng thích ứng với sự thay đổi nhanh chóng của thị trường lao động.

Có thể nói, tinh thần “đột phá” của Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Thành phố không dừng lại ở khẩu hiệu mà đang được Trường Cao đẳng Công nghệ cao Hà Nội cụ thể hóa bằng những bước đi bài bản, đồng bộ và thực chất. Mục tiêu cuối cùng của chúng tôi là đào tạo ra những người lao động kỹ thuật không chỉ giỏi nghề mà còn có tư duy số, kỹ năng xanh và bản lĩnh nghề nghiệp, đủ năng lực tham gia và đóng góp hiệu quả vào nền kinh tế tuần hoàn, kinh tế tri thức của Thủ đô và đất nước trong giai đoạn phát triển mới.

Phóng viên: Một trong những mục tiêu của Hà Nội là xây dựng: “hệ sinh thái đổi mới sáng tạo”. Thay vì chỉ đào tạo thợ giỏi, nhà trường có chiến lược gì để khơi dậy tinh thần khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo và khả năng tự tạo việc làm cho sinh viên ngay khi còn ngồi trên ghế nhà trường? Nhà trường làm thế nào để rèn luyện cho sinh viên kỹ năng tự học và tinh thần: “học tập suốt đời”?

NGƯT. TS Phạm Xuân Khánh: Chúng tôi cho rằng, khi Hà Nội đặt mục tiêu xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, thì giáo dục nghề nghiệp không thể chỉ dừng lại ở việc đào tạo ra những “thợ giỏi”, mà phải tiến thêm một bước quan trọng hơn: đào tạo ra những con người có năng lực sáng tạo, có tư duy khởi nghiệp và có khả năng tự tạo việc làm cho chính mình và cho xã hội. Đây là sự chuyển dịch mang tính chiến lược trong tư duy đào tạo của nhà trường những năm gần đây.

Trên phương diện tổ chức đào tạo, nhà trường đã chủ động tái cấu trúc mô hình giáo dục theo hướng “học trong hệ sinh thái”. Sinh viên không học nghề một cách biệt lập, mà được đặt trong mối quan hệ chặt chẽ giữa nhà trường – doanh nghiệp – thị trường – cộng đồng. Các học phần, đồ án và sản phẩm thực hành được thiết kế gắn với nhu cầu thực tế của doanh nghiệp, với các bài toán cải tiến kỹ thuật, tối ưu quy trình, tiết kiệm năng lượng, giảm phát thải, hoặc phát triển sản phẩm – dịch vụ mới. Chính trong quá trình giải quyết những vấn đề cụ thể đó, tinh thần đổi mới sáng tạo và tư duy khởi nghiệp của sinh viên được hình thành một cách tự nhiên, bền vững, chứ không phải bằng những khẩu hiệu mang tính phong trào.

Đặc biệt, nhà trường coi khởi nghiệp trong giáo dục nghề nghiệp không nhất thiết phải bắt đầu bằng việc thành lập doanh nghiệp ngay, mà trước hết là khởi nghiệp từ tư duy nghề nghiệp: dám cải tiến công việc mình đang làm, dám đề xuất giải pháp mới, dám tạo ra giá trị gia tăng trên nền tảng kỹ năng nghề. Thông qua các cuộc thi ý tưởng sáng tạo, hoạt động nghiên cứu khoa học sinh viên, các không gian đổi mới sáng tạo và trung tâm hỗ trợ khởi nghiệp trong trường, nhiều ý tưởng đã được ươm tạo, kết nối với doanh nghiệp, từng bước chuyển hóa thành sản phẩm, dịch vụ hoặc mô hình việc làm tự do, việc làm số phù hợp với xu thế kinh tế mới.

Song hành với khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo là nhiệm vụ bồi dưỡng năng lực tự học và tinh thần “học tập suốt đời” cho sinh viên. Nhà trường xác định đây là năng lực nền tảng, mang tính quyết định đối với chất lượng nguồn nhân lực trong dài hạn. Chương trình đào tạo được thiết kế theo hướng mở, linh hoạt, tích hợp mạnh mẽ phương pháp học theo dự án, học dựa trên vấn đề, học qua trải nghiệm thực tiễn và học trên nền tảng số. Giảng viên không chỉ là người truyền đạt kiến thức, mà trở thành người kiến tạo môi trường học tập, người dẫn dắt tư duy và người truyền cảm hứng học tập cho sinh viên.

Thông qua quá trình đó, sinh viên dần hình thành thói quen tự tìm kiếm tri thức, tự đánh giá năng lực, tự cập nhật công nghệ và chủ động thích ứng với thay đổi của thị trường lao động. Chúng tôi mong muốn mỗi sinh viên tốt nghiệp Trường Cao đẳng Công nghệ cao Hà Nội không chỉ sẵn sàng cho công việc đầu tiên, mà còn có đủ bản lĩnh và năng lực để học tiếp, làm mới mình nhiều lần trong suốt cuộc đời nghề nghiệp.

Có thể khẳng định rằng, bằng việc lấy con người học nghề làm trung tâm của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, Trường Cao đẳng Công nghệ cao Hà Nội đang góp phần tạo dựng một lực lượng lao động trẻ không chỉ giỏi kỹ năng, mà còn giàu khát vọng sáng tạo, tinh thần khởi nghiệp và năng lực học tập suốt đời – đúng với mục tiêu chiến lược mà Thành phố Hà Nội đã đặt ra trong giai đoạn phát triển mới.

Phóng viên: Mô hình ba bên: Nhà trường – Nhà nước – Doanh nghiệp luôn là trụ cột. Trong kỷ nguyên mới này, theo đồng chí, vai trò của doanh nghiệp đã thay đổi như thế nào? Nhà trường đang gặp những thuận lợi và thách thức gì khi tiếp cận khi tiếp cận và xây dựng quan hệ đối tác chiến lược với nhóm doanh nghiệp công nghệ cao và các ngành dịch vụ chất lượng cao? Cơ chế tự chủ tài chính và hợp tác công – tư (PPP) trong đầu tư cho giáo dục nghề nghiệp hiện có đủ linh hoạt để nhà trường bắt kịp tốc độ của doanh nghiệp không?

NGƯT. TS Phạm Xuân Khánh: Trong bối cảnh kỷ nguyên số và kinh tế tri thức, vai trò của doanh nghiệp trong mô hình “Nhà trường – Nhà nước – Doanh nghiệp” đã có sự thay đổi căn bản. Doanh nghiệp không còn chỉ là “điểm đến cuối cùng” của người học sau tốt nghiệp, mà ngày càng trở thành đối tác đồng hành ngay từ khâu thiết kế chương trình, tổ chức đào tạo, đánh giá năng lực và đầu tư cho phát triển nguồn nhân lực. Có thể nói, doanh nghiệp đang dịch chuyển từ vị trí “người sử dụng lao động” sang vai trò đồng kiến tạo hệ sinh thái đào tạo – sản xuất – đổi mới sáng tạo cùng với nhà trường và Nhà nước.

Đối với Trường Cao đẳng Công nghệ cao Hà Nội, đây vừa là thuận lợi lớn, vừa đặt ra những thách thức không nhỏ. Thuận lợi trước hết là Hà Nội có hệ sinh thái doanh nghiệp đa dạng, đặc biệt là các doanh nghiệp công nghệ cao, công nghiệp hỗ trợ và dịch vụ chất lượng cao, có nhu cầu rất lớn về nguồn nhân lực kỹ thuật được đào tạo bài bản, có khả năng làm việc trong môi trường số và toàn cầu. Nhiều doanh nghiệp đã chủ động tìm đến nhà trường, tham gia sâu vào các hoạt động đào tạo, tiếp nhận sinh viên thực tập, tuyển dụng sớm, thậm chí cùng đầu tư phòng thí nghiệm, xưởng thực hành, chuyển giao công nghệ và hỗ trợ khởi nghiệp cho sinh viên.

Tuy nhiên, thách thức lớn nhất hiện nay là sự chênh lệch về tốc độ phát triển giữa doanh nghiệp và cơ sở giáo dục nghề nghiệp. Doanh nghiệp công nghệ cao thay đổi rất nhanh về công nghệ, mô hình kinh doanh và chuẩn kỹ năng, trong khi nhà trường phải tuân thủ các quy định về chương trình, tài chính, đầu tư công và cơ chế quản lý. Việc tiếp cận các doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp FDI hay các tập đoàn dịch vụ chất lượng cao cũng đòi hỏi nhà trường phải chứng minh được năng lực quản trị, chất lượng đào tạo và tính linh hoạt trong hợp tác, điều mà không phải lúc nào các cơ chế hiện hành cũng cho phép triển khai nhanh như mong muốn.

Về cơ chế tự chủ tài chính và hợp tác công – tư (PPP),có thể khẳng định rằng chủ trương là rất đúng và kịp thời, nhưng trong thực tiễn triển khai vẫn cần tiếp tục hoàn thiện để đáp ứng yêu cầu của giai đoạn phát triển mới. Hiện nay, mức độ tự chủ tài chính của các cơ sở giáo dục nghề nghiệp đã được mở rộng, tạo điều kiện cho nhà trường chủ động hơn trong liên kết đào tạo, khai thác dịch vụ và hợp tác với doanh nghiệp. Tuy nhiên, các thủ tục đầu tư, mua sắm thiết bị, liên doanh – liên kết, cũng như cơ chế chia sẻ lợi ích và rủi ro trong các dự án PPP vẫn còn tương đối phức tạp, chưa thực sự linh hoạt so với nhịp vận động rất nhanh của doanh nghiệp công nghệ cao.

Từ thực tiễn đó, chúng tôi cho rằng, để mô hình ba bên phát huy hiệu quả thực chất hơn, cần tiếp tục hoàn thiện thể chế theo hướng trao quyền chủ động cao hơn cho nhà trường, coi cơ sở giáo dục nghề nghiệp là một chủ thể năng động trong hệ sinh thái kinh tế – đổi mới sáng tạo của Thủ đô. Khi nhà trường có đủ không gian thể chế để quyết định nhanh, hợp tác sâu và đầu tư kịp thời, thì mối quan hệ với doanh nghiệp sẽ không chỉ dừng ở đào tạo nhân lực, mà còn mở rộng sang nghiên cứu ứng dụng, chuyển giao công nghệ và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao một cách bền vững. Đây chính là điều kiện then chốt để giáo dục nghề nghiệp bắt kịp và đồng hành cùng doanh nghiệp trong kỷ nguyên mới.

Phóng viên: Một “điểm nghẽn” cố hữu là tâm lý xã hội vẫn ưu tiên bằng cấp Đại học. Trong bối cảnh Thành phố Hà Nội đang quyết liệt thực hiện khâu đột phá về nhân lực, theo đồng chí, chúng ta cần một cú hích chính sách gì đủ mạnh để thay đổi căn bản nhận thức này? Nhà trường có cơ chế đặc thù gì để thu hút và giữ chân nhân tài là đội ngũ cán bộ, giảng viên?

NGƯT. TS Phạm Xuân Khánh: Đúng như phóng viên đã nêu, tâm lý xã hội coi trọng bằng cấp đại học hơn kỹ năng nghề là một “điểm nghẽn” mang tính lịch sử, không thể giải quyết chỉ bằng tuyên truyền hay những khẩu hiệu ngắn hạn. Muốn thay đổi căn bản nhận thức này, theo tôi, cần một “cú hích chính sách” đủ mạnh, đủ dài hơi và đủ nhất quán, đặt giáo dục nghề nghiệp vào đúng vị trí của nó trong chiến lược phát triển nguồn nhân lực quốc gia và của Thủ đô Hà Nội.

Trước hết, cú hích quan trọng nhất phải đến từ thị trường lao động và cơ chế sử dụng nhân lực. Khi xã hội nhìn thấy rõ ràng rằng người học nghề có việc làm tốt, thu nhập cao, cơ hội thăng tiến và khả năng học tiếp, phát triển nghề nghiệp suốt đời, thì nhận thức sẽ tự thay đổi. Vì vậy, cần những chính sách mạnh mẽ hơn trong việc chuẩn hóa và công nhận kỹ năng nghề, gắn chặt chuẩn đầu ra của giáo dục nghề nghiệp với hệ thống tiền lương, vị trí việc làm và cơ hội phát triển trong khu vực công và khu vực doanh nghiệp. Khi kỹ năng được trả công xứng đáng và được xã hội tôn vinh, thì bằng cấp sẽ không còn là thước đo duy nhất của thành công.

Bên cạnh đó, tôi cho rằng Hà Nội có thể đi đầu trong việc thiết kế các chính sách phân luồng thực chất sau trung học cơ sở và trung học phổ thông, trong đó học nghề chất lượng cao được xem là một lựa chọn ưu tiên, có lộ trình học tập liên thông rõ ràng lên các bậc học cao hơn. Điều quan trọng là người học và gia đình phải thấy được “con đường phát triển mở” của giáo dục nghề nghiệp, chứ không phải một ngã rẽ hẹp hay lối đi tạm thời.

Đối với Trường Cao đẳng Công nghệ cao Hà Nội, chúng tôi ý thức rất rõ rằng chất lượng đội ngũ cán bộ, giảng viên chính là yếu tố quyết định để phá vỡ định kiến xã hội. Vì vậy, nhà trường triển khai nhiều cơ chế mang tính đặc thù trong khuôn khổ cho phép nhằm thu hút, phát triển và giữ chân nhân tài. Một mặt, chúng tôi tạo điều kiện để giảng viên được tiếp cận công nghệ mới, tham gia đào tạo tại doanh nghiệp, tham gia các dự án nghiên cứu – chuyển giao, từ đó nâng cao năng lực thực tiễn và vị thế nghề nghiệp. Mặt khác, nhà trường chú trọng xây dựng môi trường làm việc học thuật – sáng tạo, nơi giảng viên được trao quyền chủ động, được ghi nhận bằng sản phẩm đào tạo, nghiên cứu và đổi mới sáng tạo, chứ không chỉ bằng thâm niên hay bằng cấp hình thức.

Song song với đó là các chính sách khuyến khích về thu nhập tăng thêm, khen thưởng, đào tạo – bồi dưỡng trong và ngoài nước, cũng như cơ hội phát triển nghề nghiệp dài hạn cho đội ngũ giảng viên giỏi, cán bộ quản lý có năng lực. Chúng tôi coi việc giữ chân người tài không chỉ bằng cơ chế đãi ngộ vật chất, mà quan trọng hơn là bằng niềm tin, bằng cơ hội cống hiến và bằng tầm nhìn phát triển chung của nhà trường.

Tôi tin rằng, khi giáo dục nghề nghiệp thực sự tạo ra những người học thành công, những người thầy có uy tín và những giá trị được xã hội ghi nhận, thì tâm lý “chuộng bằng cấp” sẽ dần được thay thế bằng văn hóa coi trọng năng lực, kỹ năng và giá trị lao động thực chất. Đó cũng chính là nền tảng bền vững để Hà Nội thực hiện thành công khâu đột phá về phát triển nguồn nhân lực trong giai đoạn tới.

Phóng viên: Để thực hiện thắng lợi mục tiêu của Nghị quyết XVIII, đồng chí có kiến nghị gì cụ thể với lãnh đạo Thành phố và có cam kết gì mạnh mẽ nhất với các ngành doanh nghiệp đang “khát” nhân lực?

NGƯT. TS Phạm Xuân Khánh: Để thực hiện thắng lợi các mục tiêu mà Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Thành phố lần thứ XVIII đã xác định, tôi cho rằng điều quan trọng nhất là cần tiếp tục hoàn thiện thể chế theo hướng tạo không gian hành động đủ rộng cho giáo dục nghề nghiệp chất lượng cao – nơi trực tiếp chuyển hóa chủ trương, nghị quyết thành năng lực con người và năng suất lao động cụ thể.

Với trách nhiệm của một cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập trọng điểm của Thủ đô, chúng tôi kiến nghị lãnh đạo Thành phố một số nội dung cốt lõi. Trước hết, Thành phố cần mạnh dạn trao quyền tự chủ cao hơn cho các trường cao đẳng chất lượng cao, đặc biệt trong các lĩnh vực then chốt như xây dựng chương trình đào tạo theo đặt hàng của doanh nghiệp, quyết định đầu tư trang thiết bị công nghệ mới, tuyển dụng và đãi ngộ đội ngũ giảng viên giỏi, chuyên gia kỹ thuật cao. Chỉ khi nhà trường có đủ quyền chủ động về chuyên môn và nguồn lực, giáo dục nghề nghiệp mới có thể bắt kịp tốc độ phát triển rất nhanh của doanh nghiệp và thị trường lao động.

Thứ hai, chúng tôi kiến nghị Thành phố tiếp tục hoàn thiện cơ chế đặt hàng đào tạo gắn với nhu cầu nhân lực chiến lược của Thủ đô, đặc biệt trong các lĩnh vực công nghệ cao, công nghiệp hỗ trợ, dịch vụ chất lượng cao, kinh tế số và kinh tế xanh. Việc đặt hàng cần đi kèm với cơ chế tài chính linh hoạt, ổn định và dài hạn, để nhà trường yên tâm đầu tư chiều sâu, doanh nghiệp yên tâm đồng hành, còn người học yên tâm lựa chọn con đường học nghề chất lượng cao.

Thứ ba, Thành phố có thể xem xét hình thành các trung tâm đào tạo - đổi mới sáng tạo – chuyển giao công nghệ theo mô hình hợp tác công – tư, đặt tại các trường cao đẳng nòng cốt. Đây sẽ là không gian để nhà trường, doanh nghiệp và các viện nghiên cứu cùng tham gia đào tạo, nghiên cứu ứng dụng và phát triển nguồn nhân lực, tạo ra tác động lan tỏa mạnh mẽ cho toàn hệ thống giáo dục nghề nghiệp của Thủ đô.

Đối với cộng đồng doanh nghiệp, đặc biệt là các ngành, lĩnh vực đang “khát” nhân lực, chúng tôi xin đưa ra cam kết mạnh mẽ và thực chất. Trường Cao đẳng Công nghệ cao Hà Nội cam kết đào tạo đúng – đào tạo trúng – đào tạo kịp thời theo nhu cầu của doanh nghiệp. Nhà trường sẵn sàng cùng doanh nghiệp đồng thiết kế chương trình, đồng tổ chức đào tạo, đồng đánh giá năng lực và chia sẻ trách nhiệm đối với chất lượng đầu ra của người học.

Chúng tôi cũng cam kết mở rộng tối đa cánh cửa hợp tác, từ đào tạo theo đơn đặt hàng, đào tạo lại, nâng cao kỹ năng cho người lao động, đến nghiên cứu ứng dụng, chuyển giao công nghệ và ươm tạo nhân lực cho các dự án mới của doanh nghiệp. Nhà trường coi sự thành công của doanh nghiệp chính là thước đo quan trọng nhất cho hiệu quả đào tạo của mình.

Với tinh thần đó, Trường Cao đẳng Công nghệ cao Hà Nội xác định rõ trách nhiệm: không đứng ngoài, không đi sau, mà đi cùng và đi trước một bước trong đào tạo nguồn nhân lực kỹ thuật chất lượng cao cho Thủ đô. Đây không chỉ là cam kết nghề nghiệp, mà còn là cam kết chính trị và cam kết phát triển bền vững, nhằm góp phần hiện thực hóa khát vọng đột phá mà Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Thành phố lần thứ XVIII đã đặt ra.

Minh Nhật

Đăng ngày: 06/01/2026 , 20:01 GMT+7

Tin liên quan

Tin Khác