Ảnh minh họa
Kim ngạch thương mại Việt Nam – Nhật Bản 7 tháng đầu năm 2020
(Đơn vị: tỷ USD)
 
Xuất khẩu
Nhập khẩu
Tổng XNK
Nhập siêu
7 tháng/2020
10,84
11,05
21,89
0,2
Tăng/giảm so với
7 tháng/2019
-5%
4%
-0,7% 
 
(Nguồn: Hải quan Việt Nam)
 
Tình hình xuất khẩu sang Nhật Bản cụ thể theo nhóm hàng trong 7 tháng đầu năm 2020 như sau:
 
- Nhóm hàng chế biến, chế tạo đạt kim ngạch xuất khẩu 8,39 tỷ USD, giảm 6% so với cùng kỳ năm 2019; trong đó các mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu lớn là: hàng dệt may (đạt 1,97 tỷ USD, giảm 8,3%); phương tiện vận tải và phụ tùng (1,22 tỷ USD, giảm 19,2%); máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác (1,12 tỷ USD, tăng 2,7%); gỗ và sản phẩm gỗ (702,6 triệu USD, giảm 1,7%); máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện (572,1 triệu USD, giảm 0,4%); giày dép các loại (551,7 triệu USD, giảm 2,1%); điện thoại các loại và linh kiện (517 triệu USD, tăng 21,5%); sản phẩm từ chất dẻo (395,9 triệu USD, giảm 6,4%); túi xách, ví, vali, mũ và ô dù (217,9 triệu USD, giảm 7,5%)…
 
- Nhóm hàng nông, thủy sản đạt kim ngạch xuất khẩu 1,02 tỷ USD, tăng 1,2% so với cùng kỳ năm 2019, với các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu là: hàng thủy sản (788,8 triệu USD, giảm 2,6%); cà phê (117,1 triệu USD, tăng 15,2%); hàng rau quả (79,2 triệu USD, tăng 11,8%); hạt điều (25,5 triệu USD, tăng 72,2%); cao su (8,7 triệu USD, giảm 10,8%); hạt tiêu (4,2 triệu USD, giảm 1,3%)…
 
- Nhóm hàng nhiên liệu, khoáng sản đạt kim ngạch xuất khẩu 99,7 triệu USD, giảm 55,7% so với cùng kỳ năm 2019, với các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu là: dầu thô (63,2 triệu USD, giảm 67,5%); than đá (28,3 triệu USD, tăng 26,2%); quặng và khoáng sản khác (8,3 triệu USD, giảm 4,3%).
 
- Nhóm hàng vật liệu xây dựng đạt kim ngạch xuất khẩu 489,8 triệu USD, giảm 7, 5% so với cùng kỳ năm 2019, với các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu là: sản phẩm từ sắt thép (280,5 triệu USD, tăng 4,4%); dây diện và dây cáp điện (170,8 triệu USD, giảm 0,3%); sắt thép các loại (38,5 triệu USD, giảm 57,1%).
 
Tình hình nhập khẩu từ Nhật Bản cụ thể theo nhóm hàng trong 7 tháng đầu năm 2020 như sau:
 
- Nhóm hàng chế biến, chế tạo đạt kim ngạch nhập khẩu 9,1 tỷ USD, tăng 4,8% so với cùng kỳ năm 2019; trong đó các mặt hàng có kim ngạch lớn là: máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện (2,84 tỷ USD, tăng 29,6%); máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác (2,54 tỷ USD, giảm 5,5%); phế liệu sắt thép (485,2 triệu USD, tăng 33,5%); sản phẩm từ chất dẻo (417,4 triệu USD, giảm 14,2%); vải các loại (392,2 triệu USD, giảm 14,7%)…
 
- Nhóm hàng nông, thủy sản đạt kim ngạch nhập khẩu 179 triệu USD, tăng 6,4% so với cùng kỳ năm 2019, với các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu là: hàng thủy sản (101,5 triệu USD, tăng 31,7%); cao su (77,5 triệu USD, giảm 15%);

- Nhóm hàng nhiên liệu, khoáng sản
 đạt kim ngạch nhập khẩu 58 triệu USD, tăng 42,6% so với cùng kỳ năm 2019, với các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu là: than đá (35,9 triệu USD, tăng 256,5%); sản phẩm khác từ dầu mỏ (17,2 triệu USD, giảm 8,2%); quặng và khoáng sản khác (4,7 triệu USD, tăng 37,2%);
 
- Nhóm hàng vật liệu xây dựng đạt kim ngạch nhập khẩu 1,15 tỷ USD, giảm 5,3% so với cùng kỳ năm 2019, với các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu là: sắt thép các loại (811,6 triệu USD, tăng 0,1%); sản phẩm từ sắt thép (269,2 triệu USD, giảm 17,3%); dây diện và dây cáp điện (70,9 triệu USD, giảm 9,2%).
 
Về tình hình đầu tư: Trong 7 tháng đầu năm 2020 đã có 104 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư tại Việt Nam với tổng vốn đầu tư đạt 18,82 tỷ USD. Nhật Bản xếp thứ 4/104 với tổng vốn đầu tư 1,6 tỷ USD, chiếm tỷ trọng 8,5%, (sau Singapore 6,42 tỷ USD, chiếm 34,1%; Hàn Quốc 2,83 tỷ USD, chiếm 15%; Trung Quốc 1,7 tỷ USD, chiếm 9,1%).